|
Theo đạo Phật,
không bao giờ có tâm thức hoạt động mà lại
không có cảnh hay đối tượng. Đạo Phật chia
thức ra làm sáu lãnh vực giới hạn bởi sáu
căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) và sáu
cảnh đối tượng (sắc, thanh, hương, vị, xúc
và pháp) mà thành ra sáu thức.
Sáu thức này lấy chỗ y
cứ là sáu căn nên theo sáu căn mà đặt tên là
: thức y nơi mắt (nhãn thức), thức y nơi tai
(nhĩ thức), thức y nơi mũi (tỉ thức), thức y
nơi lưỡi (thiệt thức), thức y nơi thân (thân
thức) và thức y nơi ý (ý thức).
Tâm thức có để làm gì
? Để tiếp nhận và phân biệt sáu cảnh. Do đó
không thể có một tâm thức thuần túy trống
không, không có cảnh hay đối tượng gì hết.
Nhưng trong sáu thức ấy tính chất phân biệt
hầu như không có tác dụng gì nơi năm thức
đầu, mà phân biệt dường như là hoạt động
chính của thức thứ sáu tức là ý thức. Và vì
trong các kinh luận [tiểu thừa] chỉ chấp
nhận có sáu thức mà thôi, thế nên hầu như
toàn thể mọi hoạt động của tâm đều tùy thuc
vào ý thức. Trong khi năm thức thuộc mắt,
tai, mũi, lưỡi, và thân chỉ trực tiếp đón
nhận lấy hình tướng của năm cảnh sắc, thanh,
hương, vị, xúc mà thôi, thì việc phân biệt
tốt hay, xấu đẹp, phải trái, đúng sai, để
rồi khởi lên mọi thứ tâm sở hoặc thiện hoặc
ác là phần vụ của ý thức.
Ý
thức không những phân biệt rất mạnh về cảnh
ngay hiện tại mà còn nhớ lại các cảnh thuc
quá khứ, mơ ước các cảnh trong tương lai
cũng rất mãnh liệt. Nói tóm lại, cái tâm
không ngớt suy nghĩ tứ tung, không ngừng
phân biệt ta người của chúng ta chính là ý
thức vậy
Họat động của tâm thức nói chung được đánh
giá theo ba lãnh vực : đức lý, thanh tịnh và
Trí huệ mà chúng ta vẫn gọi là tam học :
Giới, Định, Huệ. Trong ba lãnh vực này, Định
thuộc về phương diện kỹ thuật tôi luyện tâm
cho thanh tịnh nhằm đạt đến Huệ. Và vì Trí
huệ là cứu cánh, cho nên Định là phương tiện
quan trọng bậc nhất để đạt đến Trí huệ.
Nhưng Trí huệ là gì đây ? Trước hết phải
hiểu rằng Trí huệ là thuộc về tâm thức (các
nhà A Tỳ Đàm coi Huệ là một tâm sở). Mà tâm
thức thì phải có đối tượng. Vậy đối tượng
của Trí huệ là gì ?
Chúng ta đã biết đối tượng của tâm thức là
sáu cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.
Vậy trong sáu cảnh ấy, cảnh là đối tượng
của Trí huệ ? Lại nữa, trong sáu thức thời
Trí huệ thuộc thức nào ? Nếu bảo rằng đối
tượng của Trí huệ là một cảnh nào đó trong
sáu cảnh, thì hóa ra Trí huệ không phổ cập
và phổ biến khắp các cảnh, tức không "biết"
hết các cảnh, vậy thì sao là Trí huệ được ?
Nếu cho rằng sáu cảnh đều không phải là đối
tượng của Trí huệ, vậy Trí huệ ấy là một tâm
thức không có đối tượng. Một tâm thức như
thế không thể có được, mà có đi nữa thì cũng
hoàn toàn ngu ngơ, không biết gì hết, có
khác gì vật vô tri, sao gọi là Trí huệ được.
Lại
trong sáu thức của Trí huệ chỉ thuộc về một
thức thôi thì cái biết của Trí huệ cũng
không phổ cập hết, sao gọi là Trí huệ được.
Nếu Trí huệ không thuộc về thức nào hết, thì
hóa ra Trí huệ không phải là tâm nữa. Điều
này trái với giáo lý của đạo Phật.
Thế
nên phải hiểu rằng đối tượng của Trí huệ
phải là tất cả các cảnh, tức sáu cảnh ; và
Trí huệ phải là một tâm sở có mặt và hoạt
động khắp sáu thức.Nhưng nếu thế thì Trí huệ
có khác gì sáu thức đâu ? Và nếu ai có sáu
thức tức là có Trí huệ đó hay sao ? Vậy thì
Phật và phàm phu có khác gì nữa đâu ?
Tuy
đối tượng của sáu thức và của Trí huệ đều là
sáu cảnh, song sự nhận biết về sáu cảnh giữa
thức và Huệ có khác nhau. Thức nhận biết
cảnh theo xu hướng nghiệp riêng biệt của nó,.
Như thức loài người "biết" nước là nước,
thức loài cá "biết" nước là chỗ ở, thức ngạ
quỷ "biết" nước là lửa, thức chư thiên "biết"
nước là lưu ly. Còn Huệ nhận biết là nhận
biết về sự thật, về thật tướng của các cảnh.
Sáu cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp
đều có sự thật là vô thường, là khổ, là vô
ngã (theo giáo lý tiểu thừa), là KHÔNG, là
duy thức, duy tâm, là pháp thân, là chân như.
.. (theo giáo lý đại thừa). Tóm lại, cảnh
hay đối tượng của Trí huệ là chân lý của tất
cả các pháp được thâu nhiếp trong sáu lãnh
vực sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.
Lại
nữa tuy Huệ là một tâm sở, thuộc về cả sáu
thức, song Huệ vẫn là một hoạt động rất đặc
biệt của tâm thức mà không phải hễ cứ có tâm
thức, có đủ sáu thức là có thể nói là có Huệ
được. Trước hết trong sáu thức thời ý thức
thể hiện rõ tính chất của Huệ hơn hết. Tính
chất ấy chính là khả năng phân biệt và biết
suy luận của ý thức. Năm thức đầu thuộc mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân không có khả năng phân
biệt và suy luận như ý thức, mà chỉ nhận
biết các cảnh một cách trực tiếp theo cảm
quan. Thế nên khi Trí huệ phản ảnh qua sáu
thức này nó thể lộ ra hai phương diện thuộc
tác dụng của nó : một phương diện trực tiếp
thân chứng vô phân biệt, tức là năm thức đầu
khi được Trí huệ hóa ; một phương diện nữa
gián tiếp qua suy luận phân biệt chính xác
và tương ưng với sự thật, tức thuc thức thứ
sáu ý thức khi được Trí huệ hóa
Chân lý của sự vật, tức tất cả các pháp
nhiếp trong sáu cảnh, cũng theo đó mà được
thể nhận ra qua hai phương diện trên của Huệ.
Chân lý được chứng qua phương diện trực tiếp
vô phân biệt của Huệ thuc năm thức đầu là
thật tướng, là đệ nhất nghĩa (paramàrtha)
của các pháp ; và chân lý được thấy qua
phương diện gián tiếp có phân biệt suy lý,
lập luận, trình bày, giảng giải của Huệ thuc
ý thức (Duy thức học gọi hai phương diện này
là căn bổn trí và hậu đắc trí).
Như
thế cho thấy Huệ là một năng lực nhận biết
của toàn thể tâm thức (tức là cả sáu thức)
tương ưng với chân lý của toàn thể mọi sự
vật. Đồng thời Huệ cũng trở thành phương
tiện duy nhất thật sự có giá trị để đạt đến
chân lý của sự vật. Và như vậy là có đến hai
phương tiện trực tiếp và gián tiếp để đạt
đến chân lý đều thuộc về Trí huệ.
Đa
số người Phật tử hiểu lầm, nghe nói đến Trí
huệ thời chỉ biết lờ mờ là "vô phân biệt" gì
đó, hoặc đừng "chấp tướng", "phá chấp" này
nọ v.v.. và hễ cứ nghe lý luận, nói năng
trình bày là cho là thế trí, chấp ngôn ngữ,
chưa "chứng" ... nhưng nếu ngay chính đức
Phật mà cứ vô phân biệt, không nói năng,
không trình bày, thì Phật có đó có ích gì và
có khác gì một khúc gỗ đâu, và làm sao để
cho mọi người đả thông được để thể nhập vào
chân lý đây ? Sự giác ngộ của đức Phật không
phải chỉ để giác ngộ mà là để độ chúng sinh,
Phật dùng vô phân biệt trí để chứng ngộ thật
tướng chân thật của vạn pháp không phải để
vô phân biệt, mà là để phân biệt giảng nói
cho chúng sinh sáng tỏ. Tâm giác ngộ là cả
sáu thức đều giác ngộ, chứ không phải chỉ có
năm thức đầu vô phân biệt còn thức thứ sáu
tức ý thức thì bỏ đi vì bản chất của nó là
phân biệt. Trái lại khi tâm giác ngộ thể
hiện ra năm thức thì thành ra vô phân biệt,
và khi thể hiện qua thức thứ sáu thì thành
ra là phương tiện trí (nói theo đại thừa),
bởi vì chính nhờ cái khả năng phân biệt ấy
làm phương tiện nên đức Phật mới độ được
chúng sinh bằng cách phân biệt thuyết pháp
cho chúng sinh được ngộ nhập vào chân lý.
Lại
nữa, tuy ở trên phân tích cho thấy Trí huệ
có hai tác dụng trực tiếp nhận thức và gián
tiếp suy luận về chân lý, hai tác dụng này
như trên đã nói tương ưng với năm thức cảm
quan và ý thức phân biệt . Song hầu như
chính cái tác dụng gián tiếp suy luận của ý
thức mới đóng vai trò chính và chi phối luôn
cả hai mặt của Trí huệ. Nghĩa là phân biệt
mới là chính là toàn thể Trí huệ chứ không
phải là vô phân biệt. Tại sao vậy ?
Như
đã nói một tâm thức thời phải có đối tượng,
nếu không có đối tượng thời tâm thức sẽ diệt
mất. Trí huệ là tâm thức, nên Trí huệ phải
có đối tượng và ở đây đối tượng là chân lý
đệ nhất (paramàrtha). Theo tiểu thừa chân lý
ấy là Niết Bàn (nirvàna), theo đại thừa thời
là tính KHÔNG, cả hai đều ly tướng tuyệt
ngôn, cả hai đều không thuộc vào lãnh vực
của có. Như thế đối tượng của Trí huệ không
phải là một cái gì có thuộc về hoặc sắc hoặc
thanh, hương v.v.. Nếu đối tượng không có
thì đâu còn có tâm thức nào hiện khởi nữa để
mà gọi là Trí huệ. Điều này không phải là lạ
gì trong giáo lý đại thừa, những danh từ như
"vô phân biệt", "vô tâm", "vô niệm", "tuyệt
lự" hoặc các phương châm như "vô tâm tiện
thị Đạo" (vô tâm chính là Đạo), "ngôn ngữ
đạo đoạn, tâm hành xứ diệt" (trừ hết mọi
ngôn từ, diệt hết mọi trạng thái tâm), "Đối
cảnh mạc sinh tâm" (đối cảnh đừng sinh tâm)..
đều cho thấy sự xác nhận cảnh giới không có
tâm (hay ít ra là ý thức phân biệt) nữa mới
là đạo, là chân lý cứu cánh.
Trên phương diện lý luận cảnh giới vô tâm
hết sức phi lý. Tại sao ? Vì phải không có
đối tượng thì tâm mới tuyệt dứt được, mà nếu
đã không có đối tượng nữa thì còn có gì nữa
để gọi là Đạo hay chân lý ? Nếu bảo rằng
không có đối tượng nữa thì cái còn lại là
tâm, và chính tâm này là chân lý. Nhưng nếu
không có đối tượng thì tâm đâu còn có đó nữa
để mà gọi là chân lý.
Nếu
lại nói rằng ở đây cái không có là không có
tâm (nên mới nói là vô tâm, vô phân biệt)
chứ không phải là không có cảnh. Một khi vô
tâm rồi thì chính cảnh ấy là đạo, là chân lý.
Song nếu đã không có tâm thì lấy gì để biết
là có cảnh, để trực nhận rằng đó là Đạo hay
chân lý đây ? Thế nên tâm diệt thì cảnh cũng
diệt theo.
Do
đó, nếu cảnh đã là Niết Bàn tịch diệt, là
KHÔNG thì làm gì có Trí huệ hay bất cứ một
thứ tâm nào nữa. Mà nếu đã vô phân biệt thì
lấy gì để nhận ra (để giác ngộ ra) rằng đối
tượng kia là Niết Bàn, là tính KHÔNG. Như
vậy đủ thấy kinh nghiệm về chân lý tuyệt đối
(như vô phân biệt, tính Không ..) chỉ là một
cách nói, trên mặt luận lý thời hoàn toàn
nghịch lý. Lại nữa đã vô tâm và vô cảnh thì
dựa vào đâu để mà lập nghĩa là lập danh và
chân lý, là Đạo ? Phải chăng như vậy là hoàn
toàn không có một kinh nghiệm thật sự nào
hết về chân lý của sự vật, nghĩa là thật sự
không thể nào có được một cảnh KHÔNG, hay
một trạng thái tâm vô phân biệt gọi là giác
ngộ?
Xin
trả lời là có, có giác ngộ, có một kinh
nghiệm thật sự về tính KHÔNG và Niết Bàn,
chân lý cuả sự vật. Đức Phật và chư tổ sư
thường nhắc nhở chúng ta đừng hiểu các danh
xưng như KHÔNG là đoạn diệt không có gì hết,
đừng nghĩ vô tâm vô phân biệt là trơ trơ như
gỗ đá, đức Phật bảo đừng giải thích về Niết
Bàn, vì mọi giải thích đều sai, Niết Bàn là
tịch diệt, song không hề phải là đoạn diệt.
Để tỏ rõ vấn đề trên, chúng ta phải nên hiểu
rằng tâm thức tuy có sáu lãnh vực khác nhau,
song vẫn là một toàn thể bất khả phân ly.
Thế nên nơi năm thức cảm quan đầu không thể
thiếu ý thức phân biệt được. Các nhà A Tỳ
Đàm gọi loại ý thức này là "ngũ câu ý thức",
nghĩa là ý thức cùng khởi với năm thức cảm
quan. Một khi năm thức khởi lên là ý thức
khởi theo ngay liền mà phân biệt. Nên tuy
bản chất của năm thức cảm quan là trực tiếp
nhận cảnh, song trong thái độ trực tiếp ấy
đã có sẵn thái độ phân biệt suy luận gián
tiếp của ý thức rồi. Thế nên mọi kinh nghiệm
trực tiếp đều được ý thức, được nhận ra là
gì (tức phân biệt), được ghi nhận ý nghĩa,
và được cho danh xưng.
Trí
huệ cũng vậy, khi thể hiện ra qua năm thức
cảm quan như là vô phân biệt trí, thì đồng
thời phân biệt trí đã thể theo "ngũ câu ý
thức" sẵn sàng ngay đó để ghi nhận ngay lấy
cái kinh nghiệm vô tâm, vô ngôn tuyệt lự, vô
cảnh, vô tướng ấy là gì và như thế nào rồi.
Phải nên hiểu rằng cái kinh nghiệm vô phân
biệt không nên được hiểu một cách ngây thơ
là không có phân biệt, không có ý thức,
không có tâm, không có suy nghĩ gì hết .. mà
chính là trạng thái ý thức phân biệt đi sát
với năm thức cảm quan để thấy ra được cái
kinh nghiệm trực tiếp của năm thức cảm quan
đối với sự vật như chính sự vật là (yathàbhùta),
tức chân lý của sự vật.
Phân biệt kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy toàn thể
tâm thức của chúng ta có một phần không phân
biệt luôn luôn trực tiếp liên hệ chặt chẽ
với chân lý của sự vật, đó là năm thức cảm
quan. Năm thức này trình diện toàn thể sự
thật của sự vật ra trước ý thức cho ý thức
phân biệt. Ý thức là phần đón nhận, đánh giá
và thưởng thức các sự vật của tâm thức, tức
thuộc phần phân biệt của tâm thức. Phần ý
thức là phức tạp hơn hết : một mặt nó đi sát
cùng với năm thức cảm quan để nhận diện các
sự vật đúng với sự thật của chúng. Mặt khác
nó liên hệ với mọi tâm sở thiện, bất thiện
khác qua các sự chi phối của tâm vô minh và
các kiến chấp, nhất là ngã chấp, rồi duyên
khắp ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai để
rồi không ngớt hoạt động theo chiều hướng
thúc đẩy của tham, sân và si. Ở mặt này nó
rối loạn và đầy bất an. Tâm thức bị kết án
và bị đối trị qua sự tu tập giới, định, huệ
là phần tâm thức này của ý thức.
Song cái phần ý thức phân biệt đi sát với
năm thức cảm quan là phần quan trọng nhất
trong công việc tựu thành Trí huệ. Chính
phần ý thức phân biệt ấy là Trí huệ. Bởi năm
thức của cảm quan chỉ biết chiếu rõ thật
tướng của sự vật chứ không đưa lại ý nghĩa
gì hết, còn phần ý thức phân biệt liên hệ
với vô minh, với ngã chấp, thì luôn luôn cho
sự vật những ý nghĩa theo ngã, ngã sở, theo
các tâm tham, sân, si, đầy phiền não, chứ
không biết gì đến thật tướng của sự vật. Thế
cho nên chỉ còn cái phần ý thức phân biệt đi
sát theo năm thức cảm quan mới nhận chân
được chính xác ý nghĩa của thật tướng mà
thôi.Ví như tôi nhìn một quyển sách, nhãn
thức trực tiếp chiếu rọi quyển sách ấy đúng
như nó là và không chút phân biệt nó là gì
hết, tức thời ý thức đi cùng với nhãn thức
phân biệt ngay đó là một quyển sách. Ngay
giai đoạn này sự thật của quyển sách được
nhận ra, Trí huệ ở ngay tại đây. Song lập
tức cái phần ý thức vô minh chấp ngã sẽ ào
ạt hưng khởi, nào là "đây là một quyển sách
của tôi mua cách đây hai hôm, của một tác
giả mà tôi rất thích, nhưng đáng giận thay,
thằng cháu tôi đã làm cháy mất mấy chục
trang .." trong một tâm niệm như thế, nó
duyên đủ nào tôi, của tôi, người khác, nào
vui, nào buồn, nào quá khứ, hiện tại.. và
làm che mờ đi mấy Trí huệ của tâm thức đối
với thật tướng của sự vật chỉ là một vật với
màu sắc, hình tướng, do nhân duyên mà có đó,
được gọi là quyển sách. Sự tu tập thông
thường chỉ là chế ngự cái phần ý thức phân
biệt liên hệ với ngã chấp và tham, sân và si
này, chứ không phải là tiêu diệt toàn thể ý
thức. Và chế ngự như thế là để cho phần ý
thức đi sát với năm thức cảm quan được tự do
phân biệt trực tiếp sự vật, nghĩa là ý thức
trực nhận ra sự thật của sự vật, mà không bị
cái phần ý thức phiền não kia ào ạt xen vào
đem các ý nghĩa phiền não gán cho sự vật và
che mờ đi mật nghĩa chân thật của nó. Các
phương pháp để chế ngự như thế được gọi là
thiền định. Nhờ thiền định ý thức đi cùng
với năm thức cảm quan không bị ý thức phiền
não xâm hại, nhờ thế nó độc tôn hiện hành và
làm cho sự vật hiển hiện ra như thật, tình
trạng ấy được gọi là Trí huệ, nên mới nói là
định sinh huệ.
Tóm
lại không có phân biệt (như năm thức cảm
quan) thời không thể là Trí huệ được, mà
phân biệt theo xu hướng ngã và tham, sân, si
cũng không thể nào là Trí huệ được. Phải có
phân biệt nhưng không phân biệt theo ngã hay
tham, sân, si mà phân biệt đi sát với năm
thức cảm quan và trực tiếp với đối tượng mà
năm thức cảm quan chiếu hiện, mới chính là
Trí huệ. Nhờ có phân biệt cho nên chân lý
của sự vật mới có ý nghĩa là vô thường, vô
ngã, là Niết Bàn, là KHÔNG, là chân như.. và
mới được có các danh xưng như vậy. Và cũng
nhờ có phân biệt nên các ý nghĩa này mới
được trình bày rành mạch, rõ ràng, đúng lý
cho người nghe hiểu rõ mà tin nhận.
Do
đó, như trên đã có nói, phân biệt có thể nói
là có ba tác dụng : tác dụng thể nhận trực
tiếp ra chân lý, tác dụng để thành lập ý
nghĩa cho chân lý và tác dụng để truyền bá
chân lý. Tác dụng đầu tiên là kinh nghiệm cá
nhân, tác dụng thứ ba là truyền kinh nghiệm
cá nhân sang cho tha nhân, tác dụng thứ hai
ở giữa là căn bản cho cả hai tác dụng kia và
nó mới chính thật là bản thể trong sáng của
ý thức phân biệt và được gọi là Trí huệ (prajnà).
Lại
nếu nói cho trọn đủ về ý thức thì nó có thêm
một tác dụng thứ tư nữa, là tác dụng phiền
não và tạo nghiệp, theo tác dụng này ý thức
còn được gọi là nghiệp thức, vọng tưởng,
tình thức, phân biệt (theo nghĩa xấu) biến
kế chấp, tâm phan duyên.. nó liên hệ chặt
chẽ với vô minh, ngã chấp, tham ái.
Tác dụng thứ tư này, dối với các hữu tình
chưa giác ngộ, hoàn toàn đóng vai trò chính
và chi phối toàn thể tâm thức. Hữu tình vốn
chấp ngã, vô minh và tham ái nên luôn luôn
chỉ thấy có tác dụng thứ tư này là hoạt động
duy nhất của tâm thức mà thôi. Họ không ngờ
đâu rằng trong cái tâm thức đầy phân biệt
phiền não đó của họ lại có các thành phần
của Trí huệ trong sáng, luôn luôn trực tiếp
với chân lý của sự vật. Đại thừa gọi phần
Trí huệ đó của tâm thức trong khi tâm thức
còn đang đầy chấp ngã phiền não là Như Lai
tạng, hay rõ hơn là "tại triền Như Lai" (tức
Như Lai tính khi còn đang ở trong triền
phược). Và chính do trong tâm thức của chúng
sinh đã sẵn thành phần Trí huệ này, nên tâm
chúng sinh mới trở thành giác ngộ, và nhờ đó
chúng sinh thành Phật, nên phần Trí huệ ấy
cũng được gọi là Phật tính của chúng sinh.
Vấn đề Trí huệ thật ra còn rất là phức tạp.
Chúng ta còn cần phải biết rõ Trí huệ của
Phật khác với Trí huệ của A La Hán, Bích Chi
Phật ra sao ? Phải chăng nếu chúng ta đã có
sẵn Trí huệ trong tâm rồi thời chắc chắn là
chúng ta có Trí huệ ? Tại sao (theo đại thừa)
Phật lại thuyết đối tượng của Trí huệ là
KHÔNG, là mộng, huyễn, bào, ảnh.. Tại sao
Trí huệ không thôi chưa đủ là giác ngộ hay
sao mà lại còn cần phải có đại bi ? Có đại
bi rồi cũng chưa đủ hay sao mà còn phải có
ông đức nữa ? Công đức và đại bi liên
hệ thế nào với Trí huệ ? Rồi còn hạnh nguyện
là gì nữa ? Rồi Phật là Giác (Sambuddha),
Giác là khác hay mà một với Trí huệ (prajnà)
?
Và cũng chính từ vấn
đề Trí huệ này mà chúng ta có thể lần phanh
ra được chân ý nghĩa của Phật. Tại sao (theo
đại thừa) Phật lại có pháp thân Phật, báo
thân Phật và hóa thân Phật ? Từ đó pháp tịnh
độ là gì, báo độ, hóa độ ra sao ? Tịnh độ để
làm gì và có ý nghĩa gì ? Vô vàn ý nghĩa
khác nữa mà giáo pháp đại thừa chính là nỗ
lực để trình bày cho chúng ta tin hiểu về
tất cả các ý nghĩa ấy. Tin hiểu để làm gì ?
Để thực hành đúng và để vững tin chắc chắn
sự lựa chọn và chấp nhận đạo Phật của chúng
ta là một hành động thiết thực nhất, hoàn
toàn hữu ích và cần thiết nhất cho toàn thể
cuộc sống vô minh của chúng ta. Và trên bước
đường thực hành của chúng ta, hình bóng Phật
sẽ không bao giờ phai nhạt mà trái lại luôn
luôn sống động, cụ thể trong từng hơi thở,
từng tư tưởng, từng nhịp tim đập của chúng
ta.
Với Trí huệ làm nền
tảng, Phật pháp trở nên hết sức thâm sâu và
bao la vô hạn, thế nên làm người con Phật
phải nên cẩn trọng lắng nghe cho kỹ, và lắng
nghe thật nhiều, suy xét cho kỹ và sao cho
thật rộng trước khi tiến bước vào phương
diện thực hành.
Thích Nhất Chân
07/95 |