"Tu Tâm
Bát Tụng" do tôn giả Lãng-Nhật
Đường-Ba tạo ra, xưa nay đều được cao
tăng đại đức coi trọng và tôn sùng. Ở nước
ngoài có các bậc cao tăng như đức Đạt-lai
Lạt-ma, ngài Penor rinpoche cũng
như Dilgo Khyentse rinpoche
(1910-1991) đều đã nhiều lần vì chúng đệ tử
mà truyền giảng pháp yếu này. Song phần
nhiều, các ngài chỉ là tụng niệm truyền trao
hoặc giải thích sơ lược, không có giảng giải
hay trích kinh rộng rãi. Rất nhiều vị cao
tăng đại đức trong nước cũng rất xem trọng "
Tu Tâm Bát Tụng " này, nhất là
bậc ân đức bổn sư Pháp vương như ý bảo
Jigs.med Phun.tshogs (1933-2004)
rinpoche của chúng ta. Mỗi khi truyền giảng
pháp yếu, ngài đều đem bộ luận này để trên
vị trí hàng đầu. Lúc tôi mới đến Phật học
viện từng nghe ngài nói với Tăng chúng rằng:
" Vị nào quả........
Tứ Xuyên Sắc-Đạt
Lạt-Vinh Ngũ Minh Phật Học Viện,
Quốc Tế Học Kinh Đường, 04.06.1998
ghi chú:
Để đọc được bản PDF qúi vị cần có Adobe
Reader:
TRÍ
HUỆ LÀ GÌ
Trí Huệ là gì
?
Theo đạo Phật,
không bao giờ có tâm thức hoạt động mà lại
không có cảnh hay đối tượng. Đạo Phật chia
thức ra làm sáu lãnh vực giới hạn bởi sáu
căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) và sáu
cảnh đối tượng (sắc, thanh, hương, vị, xúc
và pháp) mà thành ra sáu thức.
Sáu thức này lấy chỗ y
cứ là sáu căn nên theo sáu căn mà đặt tên là
: thức y nơi mắt (nhãn thức), thức y nơi tai
(nhĩ thức), thức y nơi mũi (tỉ thức), thức y
nơi lưỡi (thiệt thức), thức y nơi thân (thân
thức) và thức y nơi ý (ý thức).
Công đức hay phước đức thật ra cũng chỉ là
một ý nghĩa với nhau, chẳng qua người đời
thì hay dùng chữ phước đức, và trong Đạo lại
hay dùng chữ công đức. Tuy nhiên theo thói
thường sử dụng, thời chữ phước đức thường
được dùng để chỉ cho quả và công đức được
nói cho nhân. Như ta thấy một người giầu có
sung sướng, ta bảo là người đó có phước đức,
và khi thấy một người đang bố thí, ta nói
người ấy đang làm công đức. Song ta vẫn có
thể dùng cả hai chữ thay cho nhau, và nói
cho cả nhân lẫn quả gì cũng đều được. Như
trong kinh A Di Đà khi các cảnh giới thù
thắng của Cực Lạc thế giới được nói lên,
thời sau đó đức Phật đều kết luận rằng